Thứ Bảy, 20 tháng 10, 2018

Tình mang đến niềm vui nỗi buồn


157.TÌNH MANG ĐẾN NIỀM VUI VÀ NỖI BUỒN
(Любовь дарит радости и печаль)

Tình mang đến niềm vui và nỗi buồn
Mối nghi ngờ, ước mơ và sảng khoái
Tình là chốn xa say sưa diệu vợi
Là đôi cánh bay vào giữa không trung.

Và đấy là nguồn dự trữ bằng vàng
Trong đời này tình quí hơn tất cả.
Nhưng nếu như bạn bị tình hành hạ
Bị giày vò, làm cho nước mắt tuôn
Thì đấy không phải tình, mà nô lệ!

Любовь дарит радости и печаль

Любовь дарит радости и печаль,
Восторги, сомнения и мечту.
Любовь - это звездно-хмельная даль
И крылья, несущие в высоту.

И это такой золотой запас,
Что в мире любого ценней богатства.
Но если она унижает вас,
Терзает и мучит до слез из глаз,
Тогда это все не любовь, а рабство!


158.BÀI SONNET CHÂN TÌNH

Bao bài thơ anh đã viết tặng em
Đ mùa hè cười bên em mãi mãi.
Bao tội lỗi trong em anh xua đuổi
Rồi đặt lên ánh sáng của ngai vàng.

Rằng không thói xấu không phải người trần
Đã đành thế, điều này anh biết rõ!
Nhưng anh chủ tâm lỗi lầm gạt bỏ
Chỉ giữ cho anh ưu điểm của hồn.

Nói tóm lại, chỉ ưu điểm hồn em
Thành ra hình bóng thân thương quá đỗi
Tạo ra em chỉ niềm vui vây lấy
Thành ra em thật hoàn hảo quá chừng.

Như người thợ nhào nặn em bằng thơ
Càng lâu càng yêu hơn hết bao giờ!

Сердечный сонет

Я тебе посвящаю столько стихов,
Что вокруг тебя вечно смеется лето.
Я тебя вынимаю из всех грехов
И сажаю на трон доброты и света.

Говорят, что без минусов нет людей.
Ну так что ж, это я превосходно знаю!
Недостатки я мысленно отсекаю,
Оставляя лишь плюсы души твоей.

Впрочем, только лишь плюсы души одной?
А весь образ, таящий одни блаженства?!
Коль творить тебя с радостью и душой —
То выходит действительно совершенство.

Я, как скульптор, из песен тебя леплю —
И чем дольше, тем больше тебя люблю!
  

Eduard Arkadyevich Asadov (tiếng Nga: Эдуард Аркадьевич Асадов, 7 /9 /1923 – 21 /4 /2004) là nhà thơ Nga – Xô Viết, anh hùng Liên Xô.

Tiểu sử:
Eduard Asadov sinh ở nước cộng hòa Trung Á Turmenia. Cả bố và mẹ đều là người Armenia và đều làm nghề dạy học. Năm 1929, sau khi bố mất, Asadov cùng mẹ chuyển về Sverdlovsk (miền Ural, Nga). Lên 8 tuổi đã biết làm thơ. Năm 1939 gia đình chuyển về Moskva và học ở trường phổ thông số 38, thành phố Moskva. Năm 1941 học xong phổ thông, Asadov tình nguyện tham gia quân đội, chiến đấu ở mặt trận bắc Kapkage và mặt trận Ukraine. Bị thương nặng ở Sevastopol, hậu quả là bị mù.

Năm 1946 Asadov vào học trường viết văn Maxim Gorky. Năm 1951 tốt nghiệp, xuất bản tập thơ đầu tiên Con đường sáng (Светлая дорога), được kết nạp vào Đảng cộng sản và Hội Nhà văn Liên Xô. Thời gian sau đó, hầu như cứ vài ba năm lại in một tập thơ mới. Ngoài thơ ca, Asadov còn viết truyện và dịch thơ các nước trong Liên bang Xô Viết như Armenia, Gruzia, Kazakhstan, Uzkekistan… Trong những thời gian khác nhau ông cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí lớn như Báo Văn (
Литературная газета), tạp chí Ngọn lửa nhỏ (Огонёк)…

Eduard Asadov đặc biệt nổi tiếng với thơ trữ tình, thế hệ trẻ luôn coi ông là thần tượng của mình. Thơ trữ tình của Asadov được dịch nhiều sang tiếng Việt.
Asadov mất ở Moskva năm 2004.

Tác phẩm:
*Con đường sáng (Светлая дорога, 1951)
*Buổi chiều tuyết (Снежный вечер, 1956)
*Những người lính không trở về (Солдаты вернулись с войны, 1957)
*Vì một tình yêu lớn (Во имя большой любви, 1962)
*Những trang thơ trữ tình (Лирические страницы, 1962)
*Tôi yêu mãi mãi (Я люблю навсегда, 1965)
*Hòn đảo mộng mơ (Остров романтики, 1969),
*Lòng tốt (Доброта, 1972)
*Gió của những năm tháng không yên (Ветра беспокойных лет, 1975)
*Những năm tháng của tình yêu và lòng dũng cảm (Годы мужества и любви, 1978)
*La bàn của hạnh phúc (Компас счастья, 1979),
*Tôi chiến đấu, tin và yêu! (Сражаюсь, верую, люблю!, 1983)
*Nghĩa vụ cao cả (Высокий долг, 1986)
Những con tim và những số phận (Судьбы и сердца, 1990)
*Những tia chớp của chiến tranh (Зарницы войны, 1995)
*Đừng đi ngang qua tình yêu (Не проходите мимо любви, thơ và truyện, 2000)
*Toàn tập tác phẩm 6 tập (Собрание сочинений в шести томах, 2003
*Hạnh phúc là gì (Что такое счастье, 2005)
*Tình yêu không có sự chia ly (У любви не бывает разлук, 2006)
*Cuộc gặp đầu tiên (Первое свидание, 2006)
  
MỤC LỤC

13. Biệt ly