Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018

Thơ Asadov - Hai vẻ đẹp


Eduard Arkadyevich Asadov (tiếng Nga: Эдуард Аркадьевич Асадов, 7 /9 /1923 – 21 /4 /2004) là nhà thơ Nga – Xô Viết, anh hùng Liên Xô.

Tiểu sử:
Eduard Asadov sinh ở nước cộng hòa Trung Á Turmenia. Cả bố và mẹ đều là người Armenia và đều làm nghề dạy học. Năm 1929, sau khi bố mất, Asadov cùng mẹ chuyển về Sverdlovsk (miền Ural, Nga). Lên 8 tuổi đã biết làm thơ. Năm 1939 gia đình chuyển về Moskva và học ở trường phổ thông số 38, thành phố Moskva. Năm 1941 học xong phổ thông, Asadov tình nguyện tham gia quân đội, chiến đấu ở mặt trận bắc Kapkage và mặt trận Ukraine. Bị thương nặng ở Sevastopol, hậu quả là bị mù.

Năm 1946 Asadov vào học trường viết văn Maxim Gorky. Năm 1951 tốt nghiệp, xuất bản tập thơ đầu tiên Con đường sáng (Светлая дорога), được kết nạp vào Đảng cộng sản và Hội Nhà văn Liên Xô. Thời gian sau đó, hầu như cứ vài ba năm lại in một tập thơ mới. Ngoài thơ ca, Asadov còn viết truyện và dịch thơ các nước trong Liên bang Xô Viết như Armenia, Gruzia, Kazakhstan, Uzkekistan… Trong những thời gian khác nhau ông cộng tác với nhiều tờ báo và tạp chí lớn như Báo Văn (
Литературная газета), tạp chí Ngọn lửa nhỏ (Огонёк)…

Eduard Asadov đặc biệt nổi tiếng với thơ trữ tình, thế hệ trẻ luôn coi ông là thần tượng của mình. Thơ trữ tình của Asadov được dịch nhiều sang tiếng Việt.
Asadov mất ở Moskva năm 2004.

Tác phẩm:
*Con đường sáng (Светлая дорога, 1951)
*Buổi chiều tuyết (Снежный вечер, 1956)
*Những người lính không trở về (Солдаты вернулись с войны, 1957)
*Vì một tình yêu lớn (Во имя большой любви, 1962)
*Những trang thơ trữ tình (Лирические страницы, 1962)
*Tôi yêu mãi mãi (Я люблю навсегда, 1965)
*Hòn đảo mộng mơ (Остров романтики, 1969),
*Lòng tốt (Доброта, 1972)
*Gió của những năm tháng không yên (Ветра беспокойных лет, 1975)
*Những năm tháng của tình yêu và lòng dũng cảm (Годы мужества и любви, 1978)
*La bàn của hạnh phúc (Компас счастья, 1979),
*Tôi chiến đấu, tin và yêu! (Сражаюсь, верую, люблю!, 1983)
*Nghĩa vụ cao cả (Высокий долг, 1986)
* Những con tim và những số phận (Судьбы и сердца, 1990)
*Những tia chớp của chiến tranh (Зарницы войны, 1995)
*Đừng đi ngang qua tình yêu (Не проходите мимо любви, thơ và truyện, 2000)
*Toàn tập tác phẩm 6 tập (Собрание сочинений в шести томах, 2003
*Hạnh phúc là gì (Что такое счастье, 2005)
*Tình yêu không có sự chia ly (У любви не бывает разлук, 2006)
*Cuộc gặp đầu tiên (Первое свидание, 2006)
  
170 bài thơ Song Ngữ


1.HAI VẺ ĐẸP
(Две красоты)

Dù mẹ-thiên nhiên chẳng phải ngồi không
Nhưng người lý tưởng ít khi sinh hạ
Vẻ đẹp hình thể cùng vẻ đẹp tâm hồn
Gặp trong một con người, quả là thật khó.

Hai vẻ đẹp đều tốt như nhau cả
Và cả hai đều xứng với vinh quang
Nhưng rất thường xuyên, vẻ đẹp tâm hồn
Lại ganh tị vẻ đẹp xinh hình thể.

Có một điều, quả là rất thú vị
Nhưng dù sao sự thật khó nhận ra
Bởi tình cảm, cần nói một điều là
Hay đánh mất mọi điều vô căn cứ.

Bởi số đông, thường không nhìn đầy đủ
Rồi khổ đau vì “cận thị” của mình
Khi nhìn thấy một gương mặt đẹp xinh
Thì vẻ đẹp tâm hồn không để ý.

Mà nếu nhận ra thì rất lâu sau đó
Chỉ khi cuống cuồng mới chịu nhìn ra
Những gì đẹp cho con mắt ngày xưa
Thì bây giờ đang bắt đầu hành hạ.

Mà, có thể là tại điều này nữa
Rằng dần dần theo ngày tháng trôi qua
Hai vẻ đẹp như hai cô gái trong nhà
Có vẻ như bất thình lình đổi chỗ.

Vẻ đẹp già đi: những gì xưa rực rỡ
Thời gian xoá nhoà không một chút tiếc thương
Trong khi đó vẻ đẹp của tâm hồn
Không tuổi tác, không vết nhăn gì cả.

Xuyên qua màn sương như ngôi sao nhỏ
Vẻ đẹp tâm hồn mãi mãi cháy lên
Ai người mở ra vẻ đẹp tâm hồn
Thì nói thật, may mắn cho người đó.

Vẻ đẹp tâm hồn luôn luôn rạng rỡ
Và tự mình, người đó mãi vinh quang.
Đời là thế, chỉ tiếc một điều rằng
Ta rất muộn màng nhận ra chân lý.

Две красоты

Хоть мать-природа не сидит без дела,
Но идеалы редко созидает.
И красота души с красивым телом
Довольно редко в людях совпадает.

Две красоты, и обе хороши.
Вручить бы им по равному венцу!
Однако часто красота души
Завидует красивому лицу.

Не слишком то приятное признанье,
А все же что нам истину скрывать?!
Ведь это чувство, надобно сказать,
Не лишено, пожалуй, основанья.

Ведь большинство едва ль не до конца
Престранной "близорукостью" страдает.
Прекрасно видя красоту лица,
Душевной красоты не замечает.

А и заметит, так опять не сразу,
А лишь тогда, смущаясь, разглядит,
Когда все то, что мило было глазу,
Порядочно и крепко насолит.

А, может быть, еще и потому,
Что постепенно, медленно, с годами,
Две красоты, как женщины в дому,
Вдруг словно бы меняются ролями.

Стареет внешность: яркие черты
Стирает время властно и жестоко,
Тогда как у духовной красоты
Нет ни морщин, ни возраста, ни срока.

И сквозь туман, как звездочка в тиши,
Она горит и вечно улыбается.
И кто откроет красоту души,
Тот, честное же слово, не закается!

Ведь озарен красивою душой,
И сам он вечным расплеснется маем!
Вот жаль, что эту истину порой
Мы все же слишком поздно понимаем...

Không có nhận xét nào: